Diễn tụng phẩm Phổ Môn trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa

Phổ Môn là pháp môn “từ tướng nhập vào tánh”. Tướng thì có sướng hoặc khổ, hạnh phức hoặc tai ương; Tánh vốn không có sướng, khổ, hạnh phúc, tai ương. Niệm “Quán Thế Am Bồ-tát” nhất tâm bất loạn là nhập chánh niệm, thanh tịnh niệm; tức là thoát ly hiện tướng tai ách, khổ não … thể nhập vào tánh thanh tịnh tự tại; mọi khổ đau, tai nạn hiện hành do nghiệp cảm, nhất thiết được hóa giải, tiêu trừ.

>>> Cùng tác giả >>> Ý nghĩa nhân bản của sự tự học

>>> Cảm tưởng của Giáo sư Phạm Phú Thành về công trình trùng tu chính điện chùa Phúc Lâm

* Phẩm: trong kinh, một chương hay một thiên gọi là một phẩm. Tiếng Sanskrit, - varga; tiếng Pali, - vagga; phiên sang âm Hán là bạt-cừ; tương đương với chương, thiên trong Hán văn. (Phẩm: a chapter of a sùtra. -> A Dictonary of Chinese Buddhist Terms, by W.E SOOTHILL, Oxford, England, 1934)

* Phổ môn có nghĩa là Cửa cứu khổ, giáo hóa cho tất cả các loài chúng sinh. (The Universal Gate.-> Senchu Murano, The Lotus Sùtra, Tokyo 1974). Tức là Phương Pháp cứu độ, giáo hóa cho tất cả chúng sinh; do vậy cũng gọi là Phổ Pháp, - The Universal Method, (The Seeker’ s Glossary of Buddhism * Sutra Translation * Committee of the U.S & Canada 2nd Edition 1998).

* Trong một môn mà thâu vào tất cả các pháp, gọi là Phổ môn.

* Do một pháp môn tu mà thông suốt các pháp môn, gọi là Phổ môn.

* Phật và Bồ-tát dùng thần thông lực, thị hiện qua mọi dạng thân hình để hóa độ tất cả chúng sinh, - cũng gọi là Phổ môn.

Phương pháp của đức Bồ-tát Quán Thế Am là tuy theo cơ duyên của chúng sinh mà hiện ra 32 ứng hóa thân, gọi tắt là ứng thân: thân Phật, thân Bồ-tát, thân Duyên giác, thân La-hán, thân chư Thiên, Tiên, Thần, thân vua, quan, phụ nữ, đồng nam, đồng nữ, … mà giáo hóa chúng sinh. Ngài thị hiện những gương tu hành bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ để cho họ trông thấy mà phát tâm tu hành; cảm ừng lời cầu nguyện của chúng sinh trong những cơn hoạn nạn liền hiện đến giải cứu cho họ; đồng thời tùy theo long tin tưởng, ước nguyện của các loài chúng sinh mà đem lại phước đức, lợi ích cho họ. (Theo Từ Điển Phật Học)

* Phổ Môn là pháp môn “từ tướng nhập vào tánh”. Tướng thì có sướng hoặc khổ, hạnh phức hoặc tai ương; Tánh vốn không có sướng, khổ, hạnh phúc, tai ương. Niệm “Quán Thế Am Bồ-tát” nhất tâm bất loạn là nhập chánh niệm, thanh tịnh niệm; tức là thoát ly hiện tướng tai ách, khổ não … thể nhập vào tánh thanh tịnh tự tại; mọi khổ đau, tai nạn hiện hành do nghiệp cảm, nhất thiết được hóa giải, tiêu trừ.

Kinh  Diệu Pháp Liên Hoa

Phẩm Phổ Môn

( diễn tụng )

1. Giữa Pháp Hội,- khi ấy
Bồ-tát Vô Tận Ý
Đứng lên, chỉnh pháp y,
Trần vai phải oai nghi.

5. Chắp tay cung kính nói:
"Kính bạch đức Thế Tôn,
Bồ-tát Quan Thế Âm,
Do những nhân duyên nào,
Danh hiệu Ngài như vậy?"

10. Thế Tôn mỉm cười dạy:
"Thiện nam, nên biết rằng
Ngàn vạn ức chúng sinh
Đang gặp bao khổ nạn!
Nếu nghe tên, cầu nguyện

15. Bồ-tát Quan Thế Âm;
Đại Sỹ cảm lòng thành,
Hộ trì cho giải thoát.
"Quan Thế Âm Bồ-tát",
Ai khẩn thiết gọi tên,

20. Dù rơi vào lửa than,
Không hề bị thiêu đốt.
Dù lũ tràn nước cuốn
Cũng không bị chết chìm.
Pháp cứu khổ vô biên,

25. Chính oai thần Bồ-tát.
Bao chúng sinh khổ cực,
Phải mạo hiểm sinh nhai,
Xuống biển mò ngọc trai,
Xa cừ hay mã não,

30. Bạc vàng cùng châu báu,
Hổ phách hay san hô,
Các bảo ngọc, lưu ly...
Chẳng may gặp bão táp,
Thuyền dạt xứ La-sát,

35. Nước quỉ, khó toàn sinh.
Chỉ một người chí tâm
Gọi tên, cầu cứu vớt,
Đại từ bi Bồ-tát
Linh ứng cứu trọn đoàn.

40. Do vậy, có hồng danh
Quan Thế Âm Bồ-tát.
Nếu có người bạc phước,
Sắp chết dưới gậy, dao,
Chí tâm gọi khẩn cầu

45. Quan thế Âm Bồ-tát ;
Dù gậy to, dao sắc
Cũng hư hoại, vô can.
Khắp thế giới Đại Thiên,
Quỉ Dạ-xoa, La-sát

50. Âm hiểm và độc ác,
Rắp tâm hại người lành,
Nghe tiếng niệm hồng danh
Quan Thế Âm Bồ-tát,
Chúng vội vàng lánh mặt,

55. Mắt dữ chẳng dám trừng,
Mong gì dám hại người,
-Vì oai linh Bồ-tát.
Những ai bị giam bắt,
Dù phải tội, dù không;

60. Thân thể bị cùm gông,
Tay chân mang xiềng xích,
Nếu trì niệm miên mật
Bồ-tát Quan Thế Âm
Xiềng xích lẫn gông cùm,

65. Nhất thiết được hóa giải.
Tam thiên Đại thiên giới,
Ác tặc sống lộng hành;
Có một đại thương nhân,
Cùng đồng nghiệp lắm của,

70. Đi vào vùng hiểm trở,
Bọn cướp của giết người;
Đoàn thương nhân có người
Khởi tín tâm khuyên bảo :
"Các người đừng sợ hải!

75. Hãy nhất mực thành tâm,
Cầu nguyện đức Quan Âm,
Xin Ngài thí vô úy.
Ta thành tâm nhất trí
Trì niệm danh hiệu Ngài,

80. Cướp sẽ chẳng hai ai,
Ắt chúng ta thoát nạn."
Đoàn thương nhân nghe bạn,
Đồng niệm Quan thế Âm,
Bồ-tát hiển oai thần,

85. Mọi người đều thoát nạn.
Ai tính tình dâm đãng,
Cầu ly dục , khiết tâm,
Trì niệm Quan Thế Âm,
Được hộ trì như nguyện.

90. Ai tính hay sân hận,
Nếu thành thực mong chừa,
Tinh tấn niệm đêm ngày
Hồng danh của Bồ-tát,
Ly sân, lòng thanh thoát.

95. Ai si mê u tối,
Cầu thoát cảnh muội mông,
Trì niệm Quan Thế Âm;
U mê chuyển sáng trí.
Phật bảo: " Vô Tận Ý!

100. Bồ-tát Quan Thế Âm
Năng lực và thần thông
Vô biên là như vậy!
Chúng sinh nên nhớ lấy,
Thường cầu nguyện Quan Âm.

105. Nếu nữ nhân thế trần
Mong sinh được nam tử,
Hoặc mong con là nữ ,
Hãy trai tịnh khiết thân,
Thường lễ bái Quan Âm,

110. Chí thành cầu gia hộ.
Bồ-tát hằng chiếu cố,
Thành tựu chủng tử lành,
Sinh con như ước nguyền:
Trai kiêm toàn trí đức,

115. Gái đoan trang xinh đẹp,
Người yêu mến vô vàn,
Hạt giống đức trưởng thành,
Nở hoa thơm trái quý.
Chúng sinh nào hoan hỷ

120. Thờ phụng Quan Thế Âm
Với tất cả lòng thành,
Chẳng uổng công tích đức.
Nên trì niệm miên mật,
Không chọn cảnh, thời gian.

125. Vô Tận Ý ! - nghĩ xem,
Nếu có người chăm chỉ,
Niệm mười phương Đại Sỹ
Hằng hà sa số lần,
Và suốt đời cúng dường

130. Ẩm thực cùng y phục,
Chăn đơn đến y dược.
Theo ý ông thế nào?
Thiện nam, tín nữ kia
Được phước nhiều hay ít?"

135. Vô Tận Ý kính đáp :
"Bạch Thế Tôn, - rất nhiều"
Thế Tôn dạy tiếp lời:
"Nếu trong đời có kẻ
Chí tâm thành đính lễ,

140. Hiến cúng và phụng thờ,
Dù chỉ trong một thời,
Niệm Quan Âm Bồ-tát,
Công đức này cũng được
Sánh bằng với người trên:

145. Phúc báo thật vô biên,
Lành thay, - là như thế!"
Bấy giờ , Vô Tận Ý
Cung kính : "Bạch Thế Tôn,
Bồ-tát Quan Thế Âm

150. Bằng cách nào du hóa ?
Làm sao Ngài thuyết giáo ?
Phương tiện nào thích nghi ?
Trong pháp giới hữu vi -
Cõi Sa-bà kham nhẫn ?"

155. Thế Tôn từ bi giảng:
"Thiện nam, - nên nhớ rằng
Tùy chúng sinh nghiệp căn
Mà tùy duyên thuyết pháp:

Cõi nào duyên với Phật,

160. Đại sỹ hiện Phật thân,
Thuyết pháp độ thượng căn.
Cõi nào tin Duyên Giác;
Bồ-tát hóa Duyên Giác,
Thuyết pháp độ tín nhân.

165. Ai ứng duyên Thanh Văn,
Thanh văn, - ấy Đại sỹ,
Giáo ngôn tăng hoan hỷ.
Ai kính lễ PhạmVương,
Đại sỹ hiện Phạm vương,

170. Giảng pháp môn giải thoát.
Cõi nào sùng Đế Thích,
Tướng Đế Thích hiện ra,
Bồ-tát! - nào ai xa,
Thuyết Đại Thừa vô ngại.

175. Ứng duyên Trời Tự Tại,
Ngự Tự Tại Thiên tòa,
Thuyết Chánh pháp Phật-đà.
Đại Tự Tại Thiên kia,
Kính Trời Đại Tự Tại;

180. Quan Thế Âm biến cải
Theo hình, chuyển pháp luân.
Duyên Thiên Đại tướng quân,
Bồ-tát biến Đại tướng,
Giảng truyền đạo vô Thượng,

185. Siêu xuất biển trầm luân.
Duyên Tỳ-sa-môn Thiên,
Tỳ-sa-môn vương dạy,
Đại Sỹ hiện thân ấy,
Thuyết pháp tại thiên đường.(1)

190. Hiện hình Tiểu quân vương,
Hóa độ Tiểu vương quốc.
Duyên Trưởng giả giai cấp,
Hóa Trưởng giả làm thầy.
Thiện nam, tín nữ nào

195. Ưng thọ giáo Cư sỹ ,
Quan Thế Âm thiện xảo
Hóa Cư sỹ trợ duyên.
Dân thuộc Tể quan quyền,
Mong liễu sinh thoát tử,

200. Đại Sỹ nhập hàng ngũ
Tể quan, -thuyết liễu sinh.
Quốc độ nào chúng sinh.
Theo Bà-la-môn giáo,
Đại Sỹ tùy duyên hóa

205. Thành Bà-la-môn tăng.
Ai vốn có duyên lành,
Được Tứ chúng hóa độ;
Tứ chúng này gồm có
Tỳ kheo, Tỳ kheo ni,

210. Ưu bà tắc, Ưu bà di.
Quan Thế Âm Bồ-tát
Thế hình thay thuyết pháp.
Ai đáng được phu nhân
Của hàng Bà-la-môn,

215. Của giai cấp Trưởng giả,
Của Tể quan, Cư sỹ,
Cảm hóa thoát vô minh;
Quan Thế Âm hiện hình
Làm phu nhân thuyết giáo.

220. Dù bé trai, bé gái
Có sứ mạng độ nhân,
Bồ-tát cũng hóa thân
Làm đồng nam, đồng nữ.
Quan Thế Âm Đại Sỹ

225. Hiện khắp cõi Sa-bà,
Tướng: Thiên, Long, Dạ-xoa,
Càn-thát-bà, A-tu-la,
Ca-lâu-la, Khẩn-na-la,
Hoặc Ma-hầu-la-dà,

230. Nhân hình, phi nhân hình,
Vì họ mà thuyết pháp.
Nếu pháp duyên ứng hợp
Với Chấp kim cang Thần,
Thì Chấp kim cang Thần

235. Là Đại Sỹ hiển hóa.
Phật bảo: "Vô Tận Ý!
Bồ-tát QuanThế Âm
Hằng tự tại hoàn thành
Vô lượng công đức ấy.

240. Du hóa mọi thế giới,
Biến hiện dưới mọi hình,
Tế độ mọi chúng sinh
Thoát tai ương, khổ não.
Chúng sinh nên ghi nhớ,

245. Thường thành tâm cúng dường.
Đại bi Quan Thế Âm
Hằng ban pháp không sợ :
Ai gặp cơn khủng bố,
Điên đảo trong kinh hoàng,

250. Được trấn tĩnh tinh thần,
Không còn biết sợ hãi.
Và chính vì như vậy
Mà khắp cõi Sa-bà
Đều tôn kính xưng là

255. Thí Vô úy Bồ-tát."
Vô Tận Ý bạch Phật :
"Kính bạch đức Thế Tôn,
Con nay xin cúng dường
Quan Thế Âm Bồ-tát."

260. Ngài cởi chuỗi anh lạc,
Bảo châu kết thành tràng,
Quý giá muôn ngàn vàng,
Trân trọng dâng Bồ-tát ,
"Kính thưa Đại Bồ-tát,

265. Xin nhận chuỗi ngọc này,
Của đại chúng hôm nay,
Cúng dường làm pháp thí."
Quan Thế Âm Đại Sỹ
Khước từ bảo vật dâng.

270. Vô Tận Ý ân cần :
"Kính thưa Đại Bồ-tát,
Xin rủ lòng thương xót
Chúng đẳng buổi hôm nay,
Vui nhận pháp cúng này!"

275. Thế Tôn mỉm cười dạy
Đại Sỹ Quan Thế Âm,
Chiếu cố tấm lòng thành
Của ngài Vô Tận Ý,
Cùng Bát bộ, Tứ chúng

280. Mà hoan hỷ nhận lời.
Đức Quan Âm, bấy giờ
Niệm tình của mọi người:
Bồ-tát Vô Tận Ý
Cùng bát bộ, Tứ chúng,

285. Bèn nhận ngọc hiến dâng.
Ngài chia thành hai phần:
Một dâng lên đức Phật,
Một cúng dường bảo tháp
Phật Đa Bảo Như Lai.

290. Đức Thế Tôn tiếp lời,
Bảo ngài Vô Tận Ý :
"Quan Thế Âm Đại Sỹ
Quán tự tại thần thông,
Chu du khắp mười phương

295. Cõi Sa-bà kham nhẫn!"
Bồ-tát Vô tận Ý
Khi ấy tụng kệ rằng:

"Như-Lai diệu tướng đẹp oai nghi!
Lần nữa, con xin kính hỏi Ngài,

300. Đại sỹ - con Phật - vì sao gọi
Quan Thế Âm, danh hiệu xưa nay?"
Thế Tôn truyền kệ dạy ân cần:
"Thiện nam Vô Tận Ý, nhớ rằng
Quan Âm hạnh nguyện bao la biển,

305. Ứng hiện độ sinh vạn cõi trần.
Từ vô lượng kiếp, khó nghĩ bàn,
Theo Phật ba đời chuyển Pháp Luân,
Phát thanh tịnh nguyện đầy cao cả.
Nay chỉ lược nêu, đủ tỏ tường:

310. Dù chỉ nghe tên Quan Thế Âm,
Hay dù chỉ thấy bức chân dung;
Nhất tâm trì niệm hồng danh ấy,
Thoát mọi hung tai, được cát tường.
Nếu bị xô hầm lửa, đốt thân,

315. Miên mật khẩn cầu Quan Thế Âm;
Hầm lửa biến thành hồ sen mát,
Mình không chút bỏng,thoát tai ương.
Bị thuyền phiêu giạt biển mênh mông,
Bảo táp đẩy vô miệng cá, rồng;

320. Nhất tâm cầu niệm Quan Âm lực,
Sóng gió dù to chẳng diệt vong.
Bị kẻ xô từ đỉnh Tu-di,
Niệm Quan Âm lực, đại từ bi;
Thân rơi ngàn trượng chờ tan nát,

325. Bỗng được an toàn thoát hiểm nguy.
Bị giặc hung tàn khắp bủa vây,
Gươm đao sáng loáng rắp phanh thây;
Nguyện cầu Bồ-tát Quan Âm lực,
Giặc động lòng, chẳng nỡ xuống tay.

330. Bị phép vua tuyên xử cực hình,
Dẫn tới pháp trường, thọ mạng chung!
Khẩn niệm Quan Âm cầu cứu nạn,
Đao phủ rụng rời, hết sát sinh.
Bị khổ cùm gông, cảnh ngục tù,

335. Tay chân trói buộc, xác bơ phờ ;
Niệm Quan Âm lực cầu giải thoát,
Xiềng xích bung rời, thấy tự do.
Bị can tranh tụng tới pháp đường,
Hay lâm chiến địa, cực kinh hoàng;

340. Niệm Quan Âm lực cầu che chở,
Oán hận, căm thù thảy biến tan.(2)
Bị kẻ ếm trù hoặc chú thư,
Âm mưu chuốc độc hại đời người;
Niệm Quan Âm lực cầu gia hộ ;

345. Ai gây nhân ác, quả tự hồi.
Bị loài quỉ quái tính hung hăng,
La-sát, độc long xáp tấn công;
Niệm Quan Âm lực cầu thoát nạn,
La-sát, độc long chẳng dám gần.

350. Bị bầy thú dữ đến bao vây,
Trương vuốt nhe nanh chực xé thây;
Niệm Quan Âm lực xin toàn mạng,
Thú dữ kinh hoàng vội tránh ngay.
Bị loài bò cạp, rắn hổ mang

355. Phóng khí, phun nọc độc tràn lan;
Niệm Quan Âm lực cầu thoát hiểm,
Rắn dữ, độc trùng chạy rúc hang.
Bị ngàn sấm sét giáng thiên tai,
Mưa lũ, băng tuôn hủy hoại đời;

360. Niệm Quan Âm lực cầu tĩnh lặng,
Sấm bặt mây tan, -thoát ách trời.
* * *
Chúng sinh đầy tai ách,
Vô số khổ bức thân;
Quan Thế Âm diệu trí,

365. Vạn ứng, cứu thế gian.
Sung mãn sức thần thông,
Trí phương tiện quảng độ,
Khắp mười phương quốc thổ,
Không đâu chẳng hiện thân.

370. Nẻo ác khổ trùng trùng,
Súc sinh, quỉ, địa ngục,
Sinh lão bệnh tử nghiệp,
Dần hóa giải tiêu trừ.
Quan Thế Âm nhiệm mầu,

375. Quán thật tướng thanh tịnh,
Quán trí tuệ vô tận,
Quán từ và quán bi.
Chúng sinh nên hằng ngày
Nguyện cầu và chiêm ngưỡng.

380. Thanh tịnh quang minh tướng,
Rực sáng như thái dương,
Chiếu khắp cõi vô minh,
Giải trừ mọi đảo điên
Cùng muôn ngàn tai ách.

385. Tâm bi ngăn sấm sét, (3)
Lòng từ như ngàn mây,
Tưới mưa Pháp ngọt ngào,
Dập tắt lửa phiền não.
* * *
Diệu âm là Quan Thế Âm,

390. Phạm âm như Hải triều âm,
Siêu việt thế gian âm.
Hãy thường xuyên trì niệm!
Niệm niệm, không nghi niệm.
Tịnh Thánh Quan Thế Âm,

395. Trong chết chóc, tai ương
Là nơi cần nương cậy.
Quan Thế Âm Đại Sỹ,
Phúc tụ như đại dương,
Công đức thật vẹn toàn,

400. Nhìn chúng sinh muôn loài
Bằng đôi mắt từ ái.
Bởi pháp duyên như vậy,
Đại chúng Pháp hội đây,
Niệm công đức cao dày,

405. Nên cúi đầu đính lễ !"
* * *
Ngài Bồ-tát Trì Địa,
Khi ấy, đứng lên thưa:
"Kính bạch đức Thế Tôn,
Nếu có chúng sinh nào

410. Được nghe Phẩm Phổ Môn,
Biết ngài Quan Thế Âm
Rất oai linh tự tại,
Hiển thần thông vô ngại,
Độ khắp cõi Sa-bà ;

415. Người ấy hẳn phải là
Được công đức không nhỏ !"
* * *
Thế Tôn vừa giảng rõ
Phẩm Phổ Môn diệu kỳ,
Tám vạn bốn ngàn loài

420. Sinh linh trong thính chúng
Đều vui mừng xưng tụng
Bồ - tát Quan Thế Âm.
* * *
Đồng phát Bồ-đề tâm
Cầu Vô Thượng Chánh Giác.

425. Nam-mô Quan Thế Âm Bồ-tát. ( niệm ba lần )

Kệ Tán

Diệu Pháp Liên Hoa Diệu Phổ Môn,
Quan Âm tự tại diệu thần thông !
Niệm niệm vô nghi, thanh tịnh niệm,
Vật huyễn ta hư, nạn chẳng còn .

Kệ Sám

Quỳ xin sám hối trước Thế Tôn,
Diễn tụng dâng đời diệu pháp âm.
Độn trí, lỗi lầm không tránh khỏi
Kính lạy Ngài xá tội cho con !

Phật tử cư sỹ: Quang Lộc Phạm Phú Thành
Chí tâm đính lễ diễn tụng cúng dường
Đà-Lạt trọng Thu năm Đinh Hợi
(Tháng mười năm 2007)

Chú thích

(1) Tỳ-sa-môn vương: Tỳ-sa-môn là tên vị vua cảnh trời phương bắc thuộc cõi trời Tứ ThiênVương.

(2) Trong bản chữ Hán các câu này nằm ở sau, xin phương tiện đưa lên trước cho thuận mạch văn khi diễn tụng.

(3) Nguyên câu văn chữ Hán: "Bi thể giới lôi chấn, từ ý diệu đại vân.": giới có nghĩa là ngăn ngừa, đề phòng, cấm chỉ; lôi chấn ngụ ý chỉ tai họa dữ dằn, thảm khốc. Câu này rất hợp với giáo nghĩa "Từ năng dữ lạc, bi năng bạt khổ": bạt là nhổ, bứt đi ; san bằng, dữ là cho, cấp cho, ban cho.

Bài diễn tụng này dựa theo bản kinh chữ Hán:

DIỆU PHÁP LIÊN HOA KINH
PHẬT-ĐÀ GIÁO DỤC CƠ KIM HỘI
ĐÀI BẮC - ĐÀI LOAN XUẤT BẢN (2002)

Bản dịch tham khảo:

Senchu Murano, THE LOTUS SUTRA
IKEGAMI, OTA-KU, TOKYO

và các bản dịch của:Hòa thượng Thích Trí Tịnh
Hòa thượng Thích Trí Quang
Thiền sư Thích Nhất Hạnh
Đại đức Thích Nhật Từ

 


Newer news items:
Older news items:

Pháp Âm


PopUp MP3 Player (New Window)

Hình ảnh chùa Phúc Lâm - Biên Hòa

ĐÚC TƯỢNG QUÁN THẾ ÂM MỪNG PHẬT ĐẢN



Get the Flash Player to see this player.

TIN QUAN TÂM

Joomla 1.5 Featured Articles
By Quần Anh - email: quananh@chuaphuclam.com. All rights reserved.